NEW Cách Tính Hệ Số Nợ Trên Vốn Chủ Sở Hữu, Hệ Số Nợ/Ebitda (Debt/Ebitda Ratio) Là Gì

Chào bạn đọc. Hôm nay, tôi mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về Cách Tính Hệ Số Nợ Trên Vốn Chủ Sở Hữu, Hệ Số Nợ/Ebitda (Debt/Ebitda Ratio) Là Gì qua bài viết Cách Tính Hệ Số Nợ Trên Vốn Chủ Sở Hữu, Hệ Số Nợ/Ebitda (Debt/Ebitda Ratio) Là Gì

Đa số nguồn đều đc cập nhật ý tưởng từ các nguồn trang web nổi tiếng khác nên có thể vài phần khó hiểu.

Mong mỗi người thông cảm, xin nhận góp ý and gạch đá dưới phản hồi

Khuyến nghị:

Xin quý khách đọc nội dung này ở nơi không có tiếng ồn cá nhân để đạt hiệu quả tối ưu nhất
Tránh xa toàn bộ các dòng thiết bị gây xao nhoãng trong công việc tập kết
Bookmark lại nội dung bài viết vì mình sẽ update thường xuyên

Khi xem xét báo cáo tài chính của một doanh nghiệp, ngoài việc xem báo cáo kinh doanh để biết được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp thì việc xem xét các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Việc sử dụng nợ như con dao hai lưỡi nên chúng ta phải cân nhắc kỹ lưỡng. Vậy nợ phải trả là gì, tỷ lệ nợ là bao nhiêu?

*

Nợ phải trảnghĩa vụ tiền tệ mà đơn vị phải thanh toán cho các bên cung cấp nguồn lực cho đơn vị trong một khoảng thời gian xác định. Nói cách khác, các bên cung cấp nguồn lực cho đơn vị có quyền đòi nợ đối với đơn vị khi khoản nợ đến hạn. Nếu các nghĩa vụ tiền tệ này phải trả trong vòng 12 tháng, chúng được gọi là các khoản thanh toán Nợ ngắn hạn, nếu các nghĩa vụ tiền tệ phải trả trong vòng hơn 12 tháng được gọi là Sự tin cậy dài lâu.

Bạn đang xem: Cách tính hệ số nợ

Ví dụ về Nợ phải trả:

– các khoản vay ngân hàng ngắn hạn

– nợ người bán

– nợ nhân viên

– nợ thuế nhà nước

– khoản vay dài hạn

– Sự tin cậy dài lâu

*

Hệ số nợ được tính theo công thức sau:

*

Hệ số nợ cho ta biết tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp hay còn cho biết tỷ trọng tài sản hình thành từ vốn bị chiếm dụng trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Nếu hệ số nợ nhỏ có thể thấy doanh nghiệp có mức độ an toàn khá cao, giảm khả năng doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, mất khả năng thanh toán. Ngược lại, tỷ lệ nợ vay cao sẽ gây ra nhiều rủi ro cho doanh nghiệp, nhưng sử dụng đòn bẩy tài chính lớn sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp khuếch đại tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) lên gấp nhiều lần.. Hệ số nợ không thể đánh giá đơn lẻ mà phải xem xét dựa trên đặc điểm hoạt động của ngành, kết hợp với hệ số bình quân ngành để có thể đánh giá chính xác hơn.

Một số điều cần lưu ý khi xem xét nợ phải trả và tỷ lệ nợ

Nợ cao không hẳn là xấu.

Nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ mang lại cho doanh nghiệp cơ hội tạo ra lợi nhuận lớn hơn nhiều so với việc chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu. Chỉ cần có phương án sử dụng vốn hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ không ngại sử dụng vốn vay nợ.

Phải nhìn sâu hơn vào các mục phụ.

Như đã biết trong nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ở góc độ khác là nguồn vốn mà doanh nghiệp đi chiếm đoạt từ nhiều nguồn khác nhau, tùy theo nguồn mà việc sử dụng có mức độ rủi ro khác nhau và giá vốn cũng khác nhau.

Ví dụ, người mua trả trước là khoản tiền mà doanh nghiệp lấy của khách hàng mà không phải trả chi phí sử dụng. Người mua trả trước không chỉ giảm rủi ro thu tiền của người mua mà còn mang lại cho doanh nghiệp một khoản tiền có thể sử dụng ngay vào sản xuất.

*

Ngược lại, nếu trả lương cho người lao động quá lớn chứng tỏ doanh nghiệp đang thực sự nợ lương của người lao động. xem xét.

Xem thêm: Danh sách Chi nhánh Ngân hàng Shinhan Hà Nội, Ngân hàng Shinhan Hà Nội

Tóm lại, việc xem xét kỹ hơn các khoản mục sẽ giúp chúng ta có cái nhìn phiến diện hơn về công nợ của công ty để có thể đánh giá khách quan hơn.

Phải xem xét mục đích sử dụng vốn vay và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Vốn vay là nguồn vốn có áp lực trả nợ lớn, nhưng vay đúng mục đích, có phương án trả nợ hợp lý cùng với khả năng thanh toán tốt sẽ đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, có một doanh nghiệp sử dụng vốn vào những mục đích không phù hợp.

Ví dụ, khi đầu tư vào tài sản cố định, các doanh nghiệp thường đi vay sử dụng vốn dài hạn và cố gắng thỏa thuận với lãi suất thấp, nhưng có những doanh nghiệp thiếu tiền lại sử dụng vốn vay ngắn hạn. để đầu tư vào tài sản dài hạn, do đó tạo ra áp lực thanh toán lớn hơn nhiều cho doanh nghiệp vì thời gian đáo hạn ngắn và lãi suất cao hơn, từ đó gây ra rủi ro thanh toán rất lớn.

*

Các khoản vay dài hạn để đầu tư vào dây chuyền sản xuất mới khiến các khoản vay và nợ dài hạn tăng đột biến

(Nguồn báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn)

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho biết khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp đối với các bên liên quan. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ lâm vào tình trạng phá sản. Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, người ta sử dụng hệ số thanh toán hiện hành và hệ số thanh toán nhanh (sẽ được đề cập ở phần sau).

Cần so sánh tỷ lệ nợ với các doanh nghiệp cùng ngành.

Mỗi ngành nghề kinh doanh đều có những đặc điểm riêng nên khi đánh giá hệ số nợ của doanh nghiệp phải xem xét cả các doanh nghiệp cùng ngành để đưa ra đánh giá.

Giả sử một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng với những công trình, đơn hàng lớn, thời gian thu phí sẽ lên đến vài năm thì để đảm bảo có thể tiếp tục hoạt động, doanh nghiệp chắc chắn sẽ phải huy động rất nhiều tiền. tiền từ các quỹ đã vay. Mặt khác, một doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch với thời gian thu tiền ngắn thường sẽ không phải vay quá nhiều. Tuy nhiên, dù là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng thì tỷ lệ nợ vay của doanh nghiệp này cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp cùng ngành.

Tóm lại, việc sử dụng hệ số nợ để đánh giá doanh nghiệp cần được cân nhắc kỹ lưỡng và so sánh với tương quan ngành, tránh những đánh giá quá chủ quan.

Thể loại: Công nghệ tài chính

Nguồn tổng hợp

Leave a Comment