NEW Định Nghĩa Giá Trị Thặng Dư Là Gì Bạn Đã Biết Chưa? Công Thức Tính Tỷ Suất Giá Trị Thặng Dư

Hi quý vị. Bữa nay, Promo Seagate xin góp chút kinh nghiệm cá nhân về mẹo vặt, kinh nghiệm không thể thiếu với bài viết Định Nghĩa Giá Trị Thặng Dư Là Gì Bạn Đã Biết Chưa? Công Thức Tính Tỷ Suất Giá Trị Thặng Dư

Đa phần nguồn đều được cập nhật ý tưởng từ các nguồn trang web đầu ngành khác nên sẽ có vài phần khó hiểu.

Mong mỗi người thông cảm, xin nhận góp ý và gạch đá dưới comment

Khuyến nghị:

Xin quý khách đọc bài viết này ở nơi yên tĩnh riêng tư để đạt hiệu quả cao nhất
Tránh xa tất cả các thiết bị gây xao nhoãng trong các công việc đọc bài
Bookmark lại nội dung bài viết vì mình sẽ cập nhật liên tục

Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm quan trọng nhất của kinh tế chính trị Mác – Lênin. Có thể với nhiều người, giá trị còn lại là một thứ gì đó khá trừu tượng và khó hiểu. Vậy hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu về giá trị đặc biệt này nhé.

Bạn đang xem: Định nghĩa Giá trị thặng dư

1. Khái quát về giá trị thặng dư

1.1. Ý tưởng

Giá trị thặng dư (GTTD) là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị mácxít. Ông đã nghiên cứu và đưa ra một số công thức tính toán xung quanh khái niệm này trong các bài viết của mình về kinh tế chính trị. Nó được dùng để khẳng định giá trị lao động thặng dư của công nhân bị nhà tư bản lấy đi và được cho là cơ sở để tích lũy tư bản.

Hiện nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến GTTD. Tuy nhiên, bạn có thể hiểu đơn giản về giá trụ này như sau.

Giá trị thặng dư Đó là giá trị mà người lao động sử dụng, do đó sản xuất ra một giá trị vượt quá sức lao động của mình nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt. Đối với hoạt động sản xuất, tư bản của nhà tư bản phải được chi cho tư liệu sản xuất và mua sức lao động của người lao động. Mục đích của việc đầu tư vốn này là thu được thêm một số tiền từ số tiền họ đã bỏ ra trong quá trình sản xuất. Số tiền này còn được gọi là GTTD.

Như vậy, tóm lại phần giá trị thặng dư ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra nhưng bị nhà tư bản chiếm giữ và phần này được gọi là giá trị thặng dư.

*

Khái niệm giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư được Marx nghiên cứu dưới góc độ hao phí sức lao động. Từ quan điểm này, những người lao động được làm thuê tạo ra nhiều giá trị hơn những gì họ nhận được để đổi lại. Ông cho rằng đó là yếu tố được quy định bởi mức lương tối thiểu vừa đủ để họ sống như những người lao động. Đối với Marx, sự bóc lột sức lao động chỉ có thể được xóa bỏ hoàn toàn chỉ khi nhà tư bản trả cho người lao động toàn bộ giá trị mà họ tạo ra.

Hiện tại có 2 phương pháp chính để lấy GTTD:

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư “tuyệt đối”. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư “tương đối”.

1.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Giá trị thặng dư cực kỳ phổ biến trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản

Giá trị này thu được từ việc kéo dài ngày làm việc vượt quá thời hạn lao động cần thiết. Ngày làm việc được kéo dài trong khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi, dẫn đến thời gian lao động thặng dư tăng lên.

Vì vậy, phương thức sản xuất giá trị tín dụng tuyệt đối là phương pháp kéo dài thời gian lao động thặng dư mà năng suất, giá trị cũng như thời gian lao động cần thiết không đổi. Đây được coi là cơ sở chung của chủ nghĩa tư bản.

Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản vì đây là thời kỳ lao động còn ở trình độ thủ công, năng suất lao động còn thấp. Lúc này, với lòng tham của mình, bọn tư bản chơi đủ mọi thủ đoạn để kéo dài ngày công của công nhân nhằm nâng cao khả năng bóc lột sức lao động của họ.

Tuy nhiên, do sức người có hạn và công nhân ý thức được điều này nên đấu tranh quyết liệt để rút ngắn ngày công nên nhà tư bản không thể kéo dài ngày công vô hạn. .

*

Phương thức sản xuất GTTD tuyệt đối

Một dạng khác của phương thức sản xuất giá trị thặng dư hoàn toàn là sự gia tăng cường độ lao động. Tăng cường độ lao động khá giống với việc kéo dài thời gian lao động trong ngày với thời gian lao động cần thiết không đổi nhưng làm tăng mức tiêu hao năng lượng của người lao động.

1.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

GTTD Giá trị tương đối là giá trị thu được do giảm thời gian lao động cần thiết trên cơ sở tăng năng suất lao động. Năng suất lao động xã hội tăng trước hết là ở sản xuất hàng tiêu dùng, do đó làm giảm giá trị sức lao động. Đồng thời, thời gian lao động cần thiết cũng được giảm xuống.

Khi độ dài của ngày lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ dẫn đến tăng thời gian lao động thặng dư hay còn gọi là thời gian sản xuất. giá trị thặng dư so với các nhà tư bản.

Phương pháp này sẽ rút ngắn thời gian lao động cần thiết bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động trong điều kiện thời gian lao động và cường độ lao động không đổi, do đó làm tăng thời gian lao động thặng dư.

1.4. Giá trị thặng dư

Các nhà tư bản muốn nhận được nhiều hơn giá trị thặng dư và có lợi thế cạnh tranh, họ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Mục đích nhằm cải tiến và hoàn thiện phương thức quản lý kinh tế nhằm nâng cao năng suất lao động. Nhà tư bản áp dụng phương pháp này khi bán được hàng sẽ thu được giá trị tín dụng lớn hơn các nhà tư bản khác.

Xem thêm: Hướng Dẫn Nạp Zalopay Bằng Thẻ Cào Điện Thoại Nhanh Nhất

GTTD Siêu hạn ngạch được hiểu đơn giản hơn là phần thặng dư thu được vượt quá mức thặng dư thông thường của một loại hàng hóa trong xã hội. Giá trị này là một hiện tượng tạm thời nếu được xem xét trên cơ sở mỗi vốn. Tuy nhiên, nếu xét trong toàn bộ xã hội tư bản, giá trị tín dụng siêu hạn ngạch tồn tại một cách thường xuyên. Vì vậy, đây là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động.

Có thể thấy rằng cả kim ngạch tương đối và siêu hạn ngạch đều dựa trên sự gia tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, chúng khác nhau ở chỗ giá trị thặng dư tương đối sẽ dựa trên sự gia tăng năng suất lao động của xã hội. Trong khi thặng dư siêu hạn ngạch sẽ dựa trên sự gia tăng năng suất lao động của từng cá nhân.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến

Theo các định nghĩa trên, có thể thấy rằng các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư Là:

Năng suất lao động Thời gian lao động Cường độ lao động Công nghệ sản xuất Thiết bị, máy móc Vốn

1.6. Nghĩa

Nếu xét thuần túy trên lĩnh vực kinh tế thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng chi tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh dù trực tiếp hay gián tiếp như đầu tư chứng khoán, thậm chí là tiền gửi. Ngân hàng. Tiền sẽ trở thành công cụ kiếm lời.

*

Ý nghĩa của giá trị còn lại

Mọi cá nhân đều có thể trở thành nhà tư bản nếu biết sử dụng hợp lý nguồn vốn của mình vào đầu tư kinh doanh. Nếu tiền chỉ để tích lũy thuần túy thì coi như tiền chết, không những không mang lại lợi ích gì cho cá nhân đó mà còn không mang lại lợi ích cho những người khác cần vốn để sản xuất.

Trong bất kỳ xã hội nào cũng vậy, cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư, nếu nhà tư bản có thể áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến vào sản xuất hoặc sử dụng tri thức và trí tuệ vào quá trình sản xuất thì sẽ làm tăng giá trị tín dụng mà không kéo dài thời gian hoặc cường độ lao động. lao động ảnh hưởng đến người lao động.

Công thức cũng chỉ ra cách thức tích lũy từ đó làm tăng lượng tiền là cơ sở để tái sản xuất hoặc mở rộng và phát triển, do đó làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế.

2. Phương pháp đo giá trị thặng dư

Công thức để đo lường dựa trên việc xác định giá thành của sản phẩm:

GT = C + V + m -> m = GT – (C + V)

Bên trong:

C là tỷ lệ vốn không đổi được chuyển thành giá trị của hàng hóa. C gồm 02 phần chính là C1 và C2.

C1 là hao mòn TSCĐ phân bổ cho từng đơn vị hàng hoá, bộ phận này không thể tăng giảm trong quá trình sản xuất mà nó chỉ chuyển hoá giá trị từ TSCĐ thành giá trị hàng hoá, khi đó nhà tư bản sẽ thu hồi bằng cách trừ đi phần khấu hao. quỹ.

*

Công thức tính giá trị còn lại

C2 là giá trị nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phụ liệu, phụ gia, … cũng như giá trị của công cụ, dụng cụ rẻ tiền hoặc dễ hư hỏng (các công cụ này thường sử dụng dưới 1 năm). phân bổ cho từng đơn vị hàng hoá. Phần này được kết chuyển toàn bộ một lần vào giá trị hàng hoá (nếu là công cụ, dụng cụ rẻ tiền, nhanh hỏng thì được phân bổ từng phần nhưng không quá 1 năm).

Cả C1 và C2 đều không trực tiếp tạo ra giá trị mới mà nó chỉ là phương tiện để tạo ra thặng dư nên được gọi là tư bản “bất biến”. biểu hiện ra bên ngoài bằng lợi nhuận thu được.

V là phần tiền công mà nhà tư bản bỏ ra để mua sức lao động của công nhân, nó còn được gọi là lao động sống tạo ra giá trị mới của hàng hoá, không chỉ chuyển giao toàn bộ giá trị của chúng. đối với giá trị của hàng hóa, nhưng nó cũng tạo ra một giá trị bổ sung hoặc giá trị m, do đó có tên là tư bản “khả biến”.

Giá trị gia tăng này cũng được hình thành do sự hao phí sức lao động trừu tượng của người lao động được kết tinh thành hàng hoá, nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt chứ không chỉ trả cho người tạo ra nó. Điều này có nghĩa là nhà tư bản đã mua giá trị sức lao động của người lao động thấp hơn giá trị của chính nó, chênh lệch giữa giá trị thực của sức lao động này và giá trị mà nhà tư bản bỏ ra để mua sức lao động. Hành động của người lao động là giá trị thặng dư Đây là vấn đề cốt lõi mà chúng tôi đang đề cập.

Hy vọng bài viết này sẽ mang đến cho bạn những thông tin vô cùng hữu ích và giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị thặng dư – một giá trị vô cùng quan trọng trong cuộc sống.

Thể loại: Công nghệ tài chính

Nguồn tổng hợp

Leave a Comment