NEW Từ Điển Anh Việt Share Premium Là Gì ? Share Premium Account Là Gì

Hi quý vị. Hôm nay, Promo Seagate xin chia sẽ về Từ Điển Anh Việt Share Premium Là Gì ? Share Premium Account Là Gì qua nội dung Từ Điển Anh Việt Share Premium Là Gì ? Share Premium Account Là Gì

Phần lớn nguồn đều đc lấy thông tin từ các nguồn website nổi tiếng khác nên chắc chắn có vài phần khó hiểu.

Mong mỗi người thông cảm, xin nhận góp ý and gạch đá dưới comment

Khuyến nghị:

Quý độc giả vui lòng đọc nội dung này ở nơi yên tĩnh kín đáo để đạt hiệu quả tốt nhất
Tránh xa tất cả những dòng thiết bị gây xao nhoãng trong việc tập kết
Bookmark lại nội dung bài viết vì mình sẽ update liên tiếp

Sau phần 1, phần 2, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu các chỉ số đầu tư còn lại – những công cụ hữu ích giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định, đánh giá cơ hội và xây dựng danh mục đầu tư cho mình.

Bạn đang xem: Share premium là gì?

Bạn đang xem: Share premium là gì?

*

Phân tích chỉ số lợi suất – tỷ suất sinh lợi (Yield) để đầu tư vào chứng khoán

Chỉ số Năng suất Hiện tại là một công cụ giúp các nhà đầu tư tự quyết định đầu tư vào doanh nghiệp nào.

Chỉ báo Năng suất Hiện tại (hay thường được gọi là Lợi nhuận) là gì? Đây là tỷ lệ giữa cổ tức mà một cổ đông nhận được với giá cổ phiếu mà cổ đông đó mua.

– Phân tích mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty và giá nhà đầu tư mua cổ phiếu, ta thấy có hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu rồi đợi cổ phiếu lên giá để hưởng chênh lệch (hay còn gọi là lãi vốn) thì nhà đầu tư sẽ không quan tâm nhiều đến lợi tức (lợi suất). Tại thời điểm này, thu nhập không có ý nghĩa thực sự quan trọng đối với họ so với các chỉ số như P / E, EPS đã đề cập ở bài trước. Trong trường hợp này, các nhà đầu tư đã phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và EPS. Nếu thu nhập thấp và EPS cao, họ hy vọng công ty sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư nhằm tăng lợi nhuận cho các năm tiếp theo giúp giảm P / E. Lúc này, họ dễ dàng bán lại cổ phiếu có P / E cao để thu lợi vốn.

Trường hợp 2: Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán để đầu tư dài hạn (chẳng hạn như mua làm tài sản) thì đương nhiên họ sẽ quan tâm đến việc thu lợi nhuận hàng năm, hàng quý. Khi đó, họ chỉ có thể thu cổ tức, vì vậy thu nhập là mục tiêu chính để họ quan tâm.

Khi công ty trả cổ tức cao có nghĩa là không cần sử dụng lợi nhuận để lại, có thể do: công ty sử dụng vốn vay, công ty không có kế hoạch mở rộng sản xuất hoặc thị phần của công ty đã bão hòa. Khi đó, lợi nhuận dự báo sẽ không tăng nhiều trong năm tới, nghĩa là P / E sẽ không giảm nhiều. Do đó, các nhà đầu tư không kỳ vọng sẽ tăng giá cổ phiếu của họ trong tương lai.

Thông thường lợi nhuận thu được từ cổ tức mà công ty trả sẽ thấp hơn nhiều so với lợi nhuận từ việc bán cổ phiếu. Đơn cử như Công ty Cơ điện lạnh (REE) từ ngày cổ phần hóa đến nay, cổ tức nhà đầu tư nhận được chỉ 283% mệnh giá (một trăm nghìn đồng) trong khi cổ phiếu tăng giá 1350%. nghĩa là tăng 4,7 lần. Vì vậy, điều duy nhất mà các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán quan tâm chỉ là những khoản lãi vốn có ý nghĩa trong các kỳ Đại hội đồng cổ đông thường niên. Nếu họ quyết định trả cổ tức, họ thường biểu quyết không trả nhiều.

Tóm lại, khi đầu tư, bạn nên tìm hiểu và đánh giá tất cả các loại chỉ tiêu phân tích để có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ của các chỉ tiêu này và đưa ra quyết định đầu tư chính xác. Lần sau chúng tôi sẽ giúp bạn phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa tài sản công ty và tài sản cổ đông để bạn không nhầm lẫn hình dáng bên ngoài với bản chất thực sự bên trong của công ty.

Xem thêm: Hành hương Núi Dinh Bà Rịa Vũng Tàu, Chùa Phật Quang, Núi Dinh Bà Rịa

NAV (Giá trị tài sản ròng) là gì? Cách tính NAV và đánh giá chỉ số một cách khách quan

NAV liên quan chặt chẽ đến việc xác định giá trị tài sản công ty và tài sản của cổ đông. Từ đó, các nhà đầu tư sẽ không bị nhầm lẫn giữa hình thức bên ngoài và bản chất thực sự bên trong của công ty.

Thông thường vốn của công ty chủ yếu bao gồm vốn tự có của cổ đông và vốn đi vay. Các nguồn vốn này cung cấp cho công ty các tài sản như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,… và các tài sản lưu động khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Vì vậy, đôi khi một công ty có vốn cổ đông thấp (hay gọi là vốn điều lệ), chẳng hạn như tài sản bên ngoài lớn, chưa chắc đó là tài sản hình thành từ vốn góp của các cổ đông, mà có thể là một phần từ vốn vay. . Vốn chủ sở hữu của cổ đông được gọi là Giá trị tài sản ròng của công ty, là NAV (Giá trị tài sản ròng).

Giá trị tài sản ròng NAV bao gồm:

Vốn của cổ đông (vốn điều lệ) là vốn được hình thành từ lợi nhuận để lại. Phần vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá (Thặng dư vốn cổ phần) lỗ trong hoạt động kinh doanh và quỹ dự phòng phát triển. phát triển dự phòng.

Người ta thường sử dụng chỉ số NAV / Cổ phiếu (giá trị ròng của mỗi cổ phiếu phát hành) để đánh giá giá trị ghi sổ của cổ phiếu và giá mua cổ phiếu. Chỉ số này được tính bằng cách lấy tổng giá trị vốn chủ sở hữu (tổng tài sản trừ đi bất kỳ tài sản vô hình nào cũng như tất cả nợ và chứng khoán trái phiếu ưu đãi) chia cho tổng số cổ phiếu đang lưu hành. củ hành.

Chỉ số này giúp các nhà đầu tư đánh giá một công ty khi đầu tư trên một số khía cạnh như sau:

Giả sử công ty có cổ phiếu mệnh giá 100.000 đồng và NAV là 120.000 đồng nghĩa là công ty có thể có vốn tích lũy để sản xuất từ ​​lợi nhuận để phát hành chênh lệch… Như vậy, nhà đầu tư mua cổ phần. Với giá 120.000 đồng, họ vẫn mua đúng với giá trị sổ sách của nó.

Nếu NAV là 120.000 đồng mà lợi nhuận của công ty cao thì nhà đầu tư cũng có thể mua cổ phiếu với giá cao hơn NAV để kỳ vọng tăng lợi nhuận, sau đó sẽ trả cổ tức lũy kế và NAV tiếp tục tăng. lần tới.

Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng công ty vẫn thua lỗ (tiếp tục giảm NAV), bạn có quyết định mua với 120.000 đồng hoặc cao hơn không? Đây là quyết định khó khăn và rủi ro nhất vì nó phụ thuộc nhiều vào đánh giá phân tích của nhà đầu tư ở nhiều khía cạnh thông tin chính xác về công ty trong tương lai. Ở đây chỉ có một nguyên tắc đơn giản mà nhà đầu tư chấp nhận đầu tư, đó là “lợi nhuận cao, rủi ro cao”.

Tóm lại, NAV là thước đo thận trọng nhất để các nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu của một công ty với giá trị thực của nó. Trên thực tế, điều quan trọng nhất vẫn là vấn đề “lợi nhuận” vì đó là cơ sở chính để đánh giá khả năng sinh lời của công ty khi sử dụng vốn.

Thể loại: Công nghệ tài chính

Nguồn tổng hợp

Leave a Comment